THÔI THÌ...THÌ CỨ ĐƯỜI ƯƠI,TIÊU DAO RỪNG RÚ NỤ CƯỜI NGUYÊN SƠ..!CÁM ƠN CÁC BAN ĐÃ GHÉ THĂM,ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN!
Hiển thị các bài đăng có nhãn PHÚ VĂN ĐIẾU !. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn PHÚ VĂN ĐIẾU !. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 28 tháng 12, 2014

XƯA NAY XUÂN PHÚ!



                                        Đình làng Văn Qũy đón xuân

XƯA NAY XUÂN PHÚ!

Mùa ảm đạm - Thôi giăng rét lay bay
Tiết hân hoan - Đã bủa nồng lất phất
Mưa tạnh - Én về bện xôn xao
Nắng giăng - Mầm nứt nghe rạo rực

Nhớ xuân xưa !

Khắp ngõ - Người lom khom đi vay mượn để phòng xuân
Ngoài đồng - Kẻ tất bật xuống cấy cày cho kịp tết
Thuở ấy - Nhìn em ngày cuối tháng mong may áo dạ cứ nao nao
Khi xưa - Thấy Mẹ đêm hết năm thức chờ con lòng càng quặn thắt

Mà thôi!

Tết – Không riêng thêm hiên - kẻ giàu sang
Xuân - Chẳng lẽ bớt cửa - người khổ cực
Tiễn Táo- Muôn nhà chuồi lễ vật đưa Đông Trù về trời bớt kể lể ba que
Chào xuân- Mọi xó kê ghế bàn đón Thổ Địa xuống đất thôi săm soi tất bật.
Mùi an tọa – Dê thong dong cưỡi ánh Dương quang
Ngọ di hành- Ngựa tất tả quăng manh Giáp bạc.

Chẳng những- Chiều ba mươi - xóm giềng chia thịt lợn nghe rộn ràng
Mà còn- Đêm trừ tịch - bè bạn uống rượu rồng* nhìn say khướt
Giàu cũng rứa- Câu đối thuê diện với củ kiệu dưa hành
Nghèo như ri- Thơ phú viết chưng cùng hoa mai tùng trúc
Phía cửa- Đôi thiền thư treo trên bức Họa Đông Hồ
Trong nhà- Cặp mai trúc dựng cạnh tờ Thư pháp Việt

Ba bữa tết- Đội khăn đen mặc áo dài - leo chòi cờ bạc nhập với cuộc hơn thua
Mấy hơi xuân- Tra guốc mộc cầm gậy ngắn - xuống chiếu sòng bài huơ cùng tay được mất.
Mặc Vợ- Giêng hai vác mủng chạy quanh - Xin vay
Kệ Người- Mùa vụ cầm bao đi tới-Lạy khất

Đẹp Thay !


Nắng ấm- Cỏ cây chuyển dạ hé phơi hương
Gió nồng – Hoa lá giục mầm trồi chưng sắc
Quê hương an lạc- Xuân về với văn nhớ ôn chữ binh thư
Đất nước thanh bình- Tết đến cùng võ nên luyện tờ sách lược.

Mõ chuông Cổ Tự - Vọng hồi cầu Quốc Thái Dân An
Chiêng trống Đình Làng –Gióng tiếng chúc Gia Bình Trí Lạc.
Ngan ngát- Gầm trời hương tỏa mùi giữa mênh mông
Lung linh- Mặt đất sắc đưa màu lên bát ngát
Chồi nụ - nõn nà chiêu cảm quân lụy tình
Bướm ong- suồng sã nâng niu nhụy xin mật.
Vũ trụ - Chia rồi - năm tháng đều cùng sanh
Càn khôn- Phân đó - bốn mùa ắt sẽ diệt.
Muôn ngõ - Tưng bừng nam thanh nữ tú lướt về chơi xuân
Khắp nơi- Hớn hở lão lai tài tận vùng dậy thưởng tết.
ÔÔng mụ*- Cũng lều khều đũa gắp đũa trao
Vợ chồng - Cùng loáng thoáng chén thù chén tạc.

XUÂN NAY!

Đợi dê tới- Lòng bao nỗi mừng vui
Đưa ngựa về- Dạ bấy niềm thương tiếc.
Kẻ còn sống- Lắm mảnh đời –Bớt trôi nổi loay hoay
Người qua đời – Nhiều hồn phách - Thôi trầm luân phiêu dạt.

Tống cựu- Tròm trèm vài chữ chúc muôn người mãi mãi an khang
Nghênh tân- Lõm bõm đôi câu cầu trăm họ luôn luôn hạnh phúc.
Nơi hè phố- Đừng thêm kiếp cơ hàn
Ngõ xóm thôn – Chớ giảm đời chất phác.
Chúc nông nghiệp- Ruộng vườn cây trái mùa càng bội thu
Cầu doanh nhân – Phúc lộc tiền tài ngày thêm phát đạt...!

                                                                  Lê Đăng Mành
* Rượu Kim Long Q Trị
**ông bà

Thứ Tư, 10 tháng 12, 2014

BẦN NÔNG PHÚ !



 

BẦN NÔNG PHÚ !

 

Giữa trời lồng lộng - Ung dung với ruộng rẫy non sông

Trên đất mênh mang -Thanh thản cùng thu đông xuân hạ.

Lý lịch-Trơn tru chơn chất kiếp nông bần

Thế gia - Mà mượt tự hào đời dân dã.
 
Đẹp thay cuộc sống!
 
Nhờ mưa thuận- Sáng tinh mơ dưới đê bao đã nghe giọng tắc rì *

Cậy gió hòa – Chiều chạng vạng bên bàn rượu vội bật cười ha hả

Dẫu tết- Chiều hôm còn lúi húi khơi con nước cạnh bờ mương

Dù xuân- Sáng sớm vẫn lui cui bơm thuốc sâu trên ruộng mạ

Xởi lởi- Bên xóm giềng đùm bọc bấy thân phận bớt rách bươm

Vui cười - Giữa làng mạc chia sẻ bao mảnh đời thôi tơi tả.

Hạt muối - Cắn đôi là tánh rộng lượng ở thôn quê

Đồng xu - Chắt bóp ấy chất hẹp hòi nơi phố xá
 
Vậy mà!

Tổ quốc gọi- Cầm đao vùng dậy mà lừng lẫy với sông hồ

Giang sơn cần- Xách gậy đứng lên cứ hùng hồn nên Tướng tá

Chất phác - Nuôi trang anh hùng chỉ nứt ở miền quê

Hiên ngang - Dưỡng bậc hào kiệt đâu thành nơi thị xã

Mạng mạch- Đây nơi gìn giữ bản sắc cảo thơm

Cội nguồn - Chính chốn bảo lưu giống nòi gia phả.

Mỗi khóm chuối- Hằng đêm trăng rưới khắp ánh tươi mươi

Từng bờ tre -Mọi sáng nắng chan cùng màu trang nhã
 
Hun đúc- Ở phong tư nên sanh lắm bậc anh hào

Nâng niu- Nơi khí tiết mà dậy nhiều trang thức giả

Ruộng vườn bát ngát- Nam thanh đượm nhuần nụ từ bi

Sông nước thênh thang- Nữ tú  lai láng mầm bát nhã.
 
Dẫu rằng!

Thời tiết -Có thất thường bão giông luôn hoành hành con người nơi đây vẫn vui

tươi

Vụ mùa - Dẫu bấp bênh lũ lụt mãi chầu chực hoa cỏ chốn nầy còn cao nhã

Kẻ ruộng  - Lòng chăm trau dồi hạnh vị tha

Bần nông - Dạ nhớ thúc liễm đời vô ngã.
 
Đình đám- Cần bão lưu nét văn hóa đẹp xóm thôn

Hội hè- Quyết gìn giữ nếp gia phong thơm làng xã

Cửa Thiền Tự- Vọng tiếng chuông ngân- người cố quận đặng yên lòng

Gác Giáo Đường- Vang lòi kinh nguyện-kẻ tha hương thêm hả dạ
 
Muôn kiếp - Khó khăn nên gần gũi cùng tôm tép ruộng đìa

Một đời- Lận đận phải cận thân với trâu bò rơm rạ

Còn nhiều kẻ- Vương vào chỗ  khốn quẫn túng bần

Có lắm người- Thoát ra nơi thong dong khá giả.
 
Mong thay!

Chân lấm- Tương lai con cháu ngày một bay xa

Tay bùn- Hiện tại quê hương muôn đời lan tỏa.

Luôn cảm động - Nguồn mạch mở làng - đọng trí tuệ muôn thuở của tổ tiên

Mãi ngậm ngùi- Cội đất an táng - gói cốt xương nghìn thu đây mồ mả.

Hậu duệ- Muôn nơi mãi khắc ghi đẹp dạ eng tam

Tiền nhân- Chín suối luôn phò hộ tươi đời út ả**.
 
Đau đáu - Cảnh nông bần nên mạo muội đôi vần lỗi phú văn

Đành hanh - Đời dân dã mà thày lay vài câu sai chính tả.

Xin Ba hạng- Bao dung cảm mến để thứ tha

Gửi Quan viên- Độ lượng thương yêu mà đại xá…!
 
                             Lê Đăng Mành cảm bút
 
*Tiếng điều khiển trâu cày bừa 
**chị em                

Thứ Sáu, 21 tháng 11, 2014

Ô LÂU GIANG PHÚ!



Ô LÂU GIANG PHÚ!
Từ châu Hoan Châu Hóa-thiên di tạm dừng Chân
Đến Châu Rí châu Ô - lập nghiệp thôi tiếp bước
Chim đậu -đất lành xứ ô lâu
Người nương -suối ngọt miền sông nước

Trộm nghe,nên nay!
Kẻ Hậu Bối - Giam thân trích lục cùng miền xuôi
Bậc Tiền Nhân- Gợi ý sao tìm khắp mạn ngược.
Bao bận -Manh nha đứng chờ cung tay để nâng nghiên
Đôi phen-Thắc thỏm ngồi đợi dõi mắt mong mài mực.

Vẫn còn đó- Cây đa gió gom nghĩa ngày xưa
Mãi lưu đây-Bến cộ trăng gọi tình thuở trước.

Vinh quang thay!
Miền Câu Lãm - Bùi Dục Tài Tiến Sĩ khai khoa”1”
Xứ Vân Trình - Trần Văn Kỷ Trung thư phục quốc”2”
Làng Vĩnh Cố- Ngyễn Quang Vệ Uý đã tới vinh quang
Quê An Thơ –Lục Sự Hoàng Từ lui về tủi nhục.
Hào hoa Kẻ Vịnh -Thượng quan Nguyễn Đức Trứ giữ dạ thanh liêm
Lịch lãm An Thư- Tuần phủ Nguyễn Đức Hoan gìn lòng chính trực”+”.

Không hẳn Nam tử- Bút tung phượng múa rồng bay
Mà còn Nữ lưu - Chữ động quần là áo lượt
Qua Mỹ Chánh - Lừng danh thứ thiếp “3”Quang Trung- một dạ thương nòi
Về Hội Kỳ - Ngát tiếng Cửu Giai “4” Thành Thái - chung lòng yêu nước.
Trang võ tướng- Đôi bờ còn tán tụng giỏi binh thư
Đấng văn quan-Muôn bến mãi biểu dương tài thao lược
Nơi hiểm trở- Quân Tây Sơn không ngại Đá giăng cồn
Chỗ khó khăn- Tướng Nguyễn Huệ chẳng tày Bà Đa vực.*

Thương kính quá!
Bờ Hà Lỗ - Thể phách Văn Sở Tướng Quân- đất gói oan khiên
Bến Ưu Điềm -Thuyền tang Tài Nhân Thị Ngọt-sóng trào sướt mướt”5”

Lẫm liệt thay!
Tráng liệt tử- Hồng Lô Tự Khanh vua Minh Mạng tặng phong
Nguyễn Tri Phương- Quân Kỳ Thạc Phụ đời Miên Tông ban tước « 6 »
Phò Mã- Kết duyên với công chúa Đồng Xuân
Nguyễn Lâm - Tử trận gìn non sông Tổ Quốc
Xã Chánh Lộc- Từ đường Phụ Tử muôn thuở khói bay
Làng Chí Long- Miếu mộ Đệ Huynh nghìn thu bia tạc.

Nghệ nhân Măc khách -Mỹ Xuyên còn nức tiếng tợ Kế Môn
Quân Tử Trượng phu- Phò Trạch mãi lừng danh như Đại Lược.

Nam Quảng Trị bao kẻ chợ- Mỹ Chánh Hà Lộc Kẻ Lạng Hà Lỗ Câu Nhi,AnThơ Phú Kinh Kẻ Văn Kẻ Vịnh sử xanh không quên,
Bắc Thừa Thiên bấy làng quê - Phước Tích Mỹ Xuyên Trạch Phổ Ưu Điềm Hòa Viện,Vĩnh An Vân Trình Phú Nông Điền Hương con đỏ còn thuộc. « 7 »

Thời Minh Mạng –Lừng danh An Thơ Nguyễn Đức Hoạt Thượng Thư Nguyễn Đức Tư Tri Phủ vọng tộc thế phiệt trâm anh,
Thuở Miên Tông- Vang tiếng Kẻ Vịnh Tri Phủ Nguyễn Đức Dĩnh Viên Ngoại Nguyễn Đức Giãn thế gia vương tôn đài các.

Đất Văn Qũy - công thần Nguyễn Văn Vịnh Tri phủ Viện Sỹ Hàn Lâm
Xứ Câu Nhi-Danh tướng Hoàng Tự Bôi Tam Phẩm Phụng Sắc Triều Mạc. « 8»
Làng cổ Phước Tích-Họa sư Lê Văn Miến màu đọng lung linh « 9»
Giáo xứ Kẻ Văn-Thánh đạo Lê Đăng Thị hương bay ngào ngạt « 10».
Đôi bờ Nam bắc- Cử nhân Tiến sĩ như lá lay bay
Hai dải Trị Thiên-Khanh Tướng công hầu tợ sương lác đác.

Uy nghiêm Phạm vũ-Gia trì khuya sớm ngân tiếng u huyền
Lồng lộng Giáo đường - Cầu nguyện chiều hôm lắng lời trầm mặc.
Cội nguồn sông suối - Hợp lưu cùng sóng nước quần tụ mênh mông
Mạng mạch Ô lâu - Chung thủy với Tam giang tương phùng bát ngát.

Ngẫm nay !
Mây vạn thuở- lang thang đổi săc giữa trời xanh
sóng muôn đời- lãng đãng thay màu bên nước bạc.
Ngày xuống- ngồi đong cuộc có-không
Sáng lên- đứng lường thời được mất.
Thô thiển - Đôi dòng tâm niệm tiếc thương
Bùi ngùi – mấy chữ lòng hoài cảm tác !

Mùa đông Giáp Ngọ
LĐM Phụng Bút

GHI CHÚ :
1- Câu Lãm:Bùi Dục Tài người đổ Tiến sỉ thời Vua Lê Hiển Tông, đây là vị tiến sỉ khai khoa của xứ Đàng Trong, Ông được thăng quan đến chức Tả thị lang Bộ Lại
2- Vân Trình: Trần Văn Kỷ, người làng Vân Trình (tục gọi là làng Rào), tổng Vĩnh Xương, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong, trấn Thuận Hóa (nay thuộc xã Phong Bình, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế). vốn có văn học, là bậc danh sĩ ở Nam Hà. Được Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ tin dùng, phong đến chức Trung Thư Phụng Chính, tức chức quan chuyên lo việc dự thảo chính lệnh cho nhà vua.
3-Mỹ Chánh :Nguyễn Thị Bích-người vợ thứ hai của anh hùng Nguyễn Huệ - Hoàng Đế Quang Trung
4- Dương Thị Ngọt ở làng Hội Kỳ, xã Hải Chánh ,Với vẻ đẹp đoan trang và phẩm hạnh cao quý, cô gái Dương Thị Ngọt đã trở thành “cửu giai tài nhân” của vị vua yêu nước Thành Thái. Được vua Thành Thái hết mực yêu thương và sủng ái, bà phi Dương Thị Ngọt đã không tránh khỏi sự ghen ghét, đố kỵ vẫn thường xảy ra ở chốn hậu cung mà kết cục là bà bị giáng tội khi quân và phải lãnh án hình xử chém. Tiếc thương ái phi Dương Thị Ngọt, vua Thành Thái đã cho cử hành tang lễ của bà theo nghi lễ của triều đình đối với một hoàng phi và dùng thuyền rồng đưa Linh cửu bà về Cặp bến Uu Điềm và đưa lên yên nghỉ tại quê nhà thân yêu ở thôn Hội Kỳ bên dòng Ô Lâu.
5- Tướng Ngô Văn Sở, một người có công đối với nhà Tây Sơn, nhưng không may bị tội, phải dìm xuống nước sông Hương cho đến chết, thi hài chôn ở gần chùa Linh Mụ. Sau đó hai năm, ông được triều đình phục chức và cho cải táng đưa ra chôn ở làng Hà Lỗ bên bờ sông Ô Giang.
*Địa danh đoạn Sông ở Hội Kỳ có tên:vực Bà Đa và Bãi Đá giăng.
6- Nguyễn Tri Phương tên cũ là Nguyễn Văn Chương, tự Hàm Trinh, hiệu là Đồng Xuyên, sinh ngày 21 tháng 7 năm Canh Thân(1800), quê làng Đường Long (Chí Long), xã Chánh Lộc, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Ông xuất thân trong một gia đình làm ruộng và nghề thợ mộc. Nhà nghèo lại không xuất thân từ khoa bảng nhưng nhờ ý chí tự lập ông đã làm nên công nghiệp lớn.
Năm Quý Mùi (1823), vua Minh Mạng đề bạt ông hàm Điển bộ (Bí thư ở Nội điện), năm sau thăng Tu soạn, rồi Thừa chỉ ở Nội các, hai năm sau thăng Thị độc, Thị giảng học sĩ, năm 1831 thăng Hồng Lô tự khanh.
Tháng 5 năm 1847, ông được triệu về kinh, thăng hàm Chánh Hiệp biện đại học sĩ, lãnh Thượng thư bộ Công đại thần Cơ mật viện, tước Tráng Liệt tử và được ban một Ngọc bài có khắc bốn chữ "Quân kỳ thạc phụ", được chép công trạng vào bia đá ở Võ miếu (Huế)
Con trai Nguyễn Tri Phương là Phò mã Nguyễn Lâm bị trúng đạn chết tại trận Nguyễn Tri Phương cũng bị trọng thương. Ông được lính Pháp cứu chữa, nhưng ông khảng khái từ chối và nói rằng: "Bây giờ nếu ta chỉ gắng lây lất mà sống, sao bằng thung dung chết về việc nghĩa Sau đó, ông tuyệt thực gần một tháng và mất vào ngày 20 tháng 12 năm 1873 (1 tháng 11 Âm lịch), thọ 73 tuổi. Thi hài ông và Nguyễn Lâm được đưa về an táng tại quê nhà. Đích thân vua Tự Đức tự soạn bài văn tế cho ba vị công thần (Nguyễn Duy, Nguyễn Lâm, Nguyễn Tri Phương) và cho lập đền thờ Nguyễn Tri Phương tại quê nhà.
7- Tên làng chữ đậm
8-Hoàng Bôi Người xã Câu Nhi, thôn Câu Lãm Hải Lăng!Triều Mạc ,được dự vào hàng 5 bậc tước,Quan vào hàng Tam Phẩm
9- Lê Văn Miến (1874-1943) là người Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp Trường Mỹ thuật Paris, là hoạ sĩ đầu tiên ở Việt Nam.
10- Giuse Lê Đăng THỊ, sinh năm 1825 tại Kẻ Văn, Quảng Trị. Làm Cai Đội dưới thời vua Tự Đức, xử giảo ngày 24-10-1860 tại An Hòa, phong Chân Phước ngày 02-5-1909 do Đức Piô X, phong hiển thánh

Thứ Tư, 20 tháng 8, 2014

PHÚ VU LAN !

 
PHÚ VU LAN !
(Kính dâng Hương Linh những Bà Mẹ Quê đã qua đời !)

NHỚ MẸ!

Cơn may lất phất - đàn cầu siêu giải tội hương hồn
Giọt ngâu lay bay - pháp báo hiếu vu lan thắng hội!
Sầu xuân trước Mẹ cởi hạc cao đăng
Tủi thu nay con dâng văn hối lỗi

Nhớ Mẹ xưa !

Buồn thân thục nữ khi nhà cửa tả tơi
Tủi phận thuyền quyên lúc xóm làng chìm nổi
Dù là nữ tử, luôn băn khoăn nguồn cội giống nòi,
Chẳng phải nam nhi, vẫn đau đáu – tông đường dòng dõi.

Thừa hưởng gia phong dạy dỗ - vào thềm, gọi dạ trình vâng,
Tuân hành nền nếp bảo ban - ra ngõ, kêu thưa nghe hỏi.

Thương kính thay!

Mẹ xuất giá - cũng được chỗ môn đăng,
Người vu quy- thường nhằm nơi hộ đối.

Câu tứ đức - Mẹ chăm nuôi nam nữ tử tôn, giáo niên chỉ ấu, rạng rỡ gia nương,
Chữ tam tòng - Người phụng dưỡng tứ thân phụ mẫu,đưa lão tiễn già, vẻ vang nguồn cội.

Mười tám đã sanh con trưởng, chưa qua kiêng ,miệng nhai cơm búng đã tất bật tay xách vai mang,
Bốn mươi dư có đứa sau, vẫn còn cữ, lưỡi lừa cá xương mà vội vàng lưng khom đầu đội.

Khổ thân mẹ ngày phơi bóng, cấy mướn đổi cơm, lo bên trái đứa sài đứa đẹn, hậu vận đày đọa tối tăm
Thương phận người đêm chong đèn, vá thuê* bòn thuốc, chăm phía phải thằng sởi thằng ban, tương lai mịt mù trôi nổi.

Rủi mấy đứa đậu mùa dịch bệnh, từ tạ oan khiên, héo hon lòng Mẹ, thảm quá trời ơi!
Sót nhiêu thằng khói lửa chiến tranh, chia lìa tức tưởi, chua xót hồn cha, tội chưa đất hỡi…!?

Hỡi Mẹ ơi!

Sáu mươi tuổi Mẹ nhẹ gót về cõi liên trì
Mười hai xuân con dấn thân trú bờ cát bụi.
Vĩnh biệt Mẹ, trời đất cảm thương
Tiễn đưa người, nước mây hờn dỗi !

Chín tháng cưu mang cúc dục, mấy muôn kiếp đền đáp mới xong
Ba năm bú mớm cù lao, biết bao đời báo bồi cho nổi!
Tội bất hiếu chính là con đó, khổ thân Cha tàn lụi khô cằn,
Đồ vong ơn cũng tại nó đây, sầu dáng Mẹ, nhạt phai già cỗi

Thương kính thay!

Còn tại thế nhún nhường hòa nhã, gương tốt mãi lưu…
Lúc sanh tiền nhẫn nhịn khiêm cung - hương thơm còn gởi..!
Với làng mạc sức xây sức dựng, lòng bao dung chẳng ngại thế gia,
Cùng xóm giềng tay đắp tay bồi, tâm độ lượng không nề cai đội.

Dãi nắng hạ phơi mình cùng đất, vai gánh vai gồng, dụm dành không đủ , xót xa quay quắt triền miên
Dầm mưa đông bán mạng cùng trời, lưng đai lưng cõng, bòn mót chẳng dư, đớn đau cằn cỗi

Nhân nay !

Đón mùa tự tứ, phụng đề hai chữ cầu xin
Gặp buổi giải oan, kính viết mấy câu sám hối
Mai đây nguyện bỏ tâm tàm quý, sửa tánh bớt sai lầm
Mốt nọ xin chừa ý tham sân, giục lòng luôn sửa lỗi.

Lòng sám tội liền tiêu
Tội tòng do tâm khởi…!

Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật
Nam Mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát
Nguyện xin cửu huyền thất tổ
Cha Mẹ nhiều đời – vãng sanh cực lạc

Thượng văn cúng dường


LĐM Phụng bút!

*Thế kỷ trước ở miền quê thường đi vá áo quần thuê


                                  x_3ea2b62d photo x_3ea2b62d_zps0cb7a859.gif

Thứ Sáu, 18 tháng 7, 2014

TÔI ĐIẾU TÔI !




TÔI ĐIẾU TÔI!

Hỡi ôi!

Thu về  bụi nắng tủi giăng sầu
Hạ  thoát mắt sương buồn giã biệt!
Ngó sen lưu luyến ngậm thân đau
Ta người loay hoay cầm sanh diệt

Nhớ linh xưa!

Cha Mẹ hội ngộ cho riêng một hình hài
Anh em tương phùng tặng chung bầu khí huyết
Từ đâu rớt tới trụ bờ Ô lâu
Ở mô đến đây găm triền đất Việt..!?

Trần trụi thay!

Sanh ra gặp lúc bè phái như đĩa,bầy hầy quảng bá chém đâm
Lớn dậy đụng thời bang hội tợ sên,nhầy nhụa khoa trương bắn giết
Hai mươi hai chẳn - vất can trường góc khe suối cho lũ cáo chồn
Bốn chục chín dư - quăng não nề nẻo nhà thương gởi bầy cò diệc

Gặp lúc gươm tra võ - khói cuộc chiến tàn
Đụng thời ngựa tháo yên - bóng kiêu binh tiệt.
Quê nhà gặp gỡ vui với chuyện trò
Bạn bè đón đưa mừng sao kể xiết.

Thân là bụi trôi miền hữu hạn ngóng cửa vô sanh
Tâm như không chơi chốn vô cùng lên bờ bất diệt

Thương thay !

Tuổi măng non được Chị*khai tâm nắn chữ sửa bài
Thời tre lạt** nhờ Ôn*** dưỡng trí đẽo vần tập viết
Thơ ấu cù bơ cù bất giã quê quán tan tác rã rời
Thiếu niên ngáo ngáo ngơ ngơ xa nguồn cội bùi ngùi thao thiết

Những muốn đành hanh!

Binh thư lõm bõm lại bắt chước sục sạo sửa giang sơn
Võ nghệ tròm trèm ưa học đòi lăng xăng làm hào kiệt
Thấy danh lợi – lại trừng mắt tham sống
Gặp vinh hoa - thì cung tay sợ chết

Thương sao ô hô!

Chữ nghĩa lỏng bỏng lạt thếch như cháo thí,
 cũng muốn lưu giữ với càn khôn,
Văn chương lềnh bềnh chua lòm tợ nước lèo,
lại ưa thường còn cùng tuế nguyệt!

Nón tơi đỏng đảnh ghé tòa soạn gởi thơ đăng,
Google dật dờ dạo trang nhà tìm văn viết.
Thao thức chờ bài không hiển thị - thư phòng lóng nhóng để nhện giăng,
Trở trăn đợi báo chẳng đưa về - bút nghiên lơ ngơ mặc gián quệt.

Nhìn cột kèo rệu rạo bè bạn xun xoe động lòng
Thấy phên liếp liêu xiêu vợ con hít hà thương tiếc.
Bà con hỡi! Nói là nói rứa – cho vui khi mắt nhắm tay xuôi,
Bạn bè ơi! Nghe hãy nghe ri – nỏ buồn dẫu lưỡi đơ tai điếc.

Nhớ linh xưa !

Dở dang đèn sách thuở ngây thơ
Ngắn ngủi cuộc chơi thời tinh khiết.

Màn đựơc mất nói đâu cho vừa
Bả nhục vinh bàn chi mà hết
Chẳng những buông hết thù hận để tâm được rỗng rang
Mà còn xả sạch ghét ganh cho thân thôi mỏi mệt.

Để nay !

Đến Âm phủ- đó bậc thượng quan
Từ Ta bà - đây kẻ hạ liệt
Diêm Vương khảo tra
Thảo dân cáo yết
Mấy mươi năm ăn ở trên đất- thân chuyển khẩu cũng nghe tủi xót xa,
Vài ba giây giam cầm trong hòm - mũi tắt hơi đã thấy buồn da diết.


Sống với bạn ngay thẳng không niệm đổi thay
Ở cùng người thật thà chẳng tuồn chì chiết.
Dừng gieo hạt bất nghĩa nên nỏ cầu xin
Thôi cấy mầm vô nhân nào cần hối tiếc

Tự thắp nén tâm hương lúc sanh
Để huơ gươm trí tuệ khi chết
Nhục thân gởi trả trần gian vọng cầu
Thần thức bay về Phương Tây dự tiệc

Lạc bang kíp đi về
Cát bụi thôi nuối tiếc

Rượu suông chén cơm lạt - tiễn dâng
Khói nhòa Ngũ phần hương - bái biệt
 Tánh  linh thượng hưởng ! 
    
                      Vĩnh biệt Tôi ô hô!
           
                    
                     

                                                      LĐM / Tiếu bút
*  Chị nhà phúc"Masoeur"
**Cây Tre vừa đủ lá
***Ôông HT Khai Sơn Chùa Hiếu Quang Huế

                                                              NƠI AN TÁNG TÔI

                                                Chiều Cồn Đùng

                                   Kẻ Văn Thư Pháp !